asdasdas

    Lịch sử hình thành KIMONO

    Share
    avatar
    Admin
    Admin
    Admin

    Nam
    Tổng số bài gửi : 181
    Age : 30
    Đến từ : anime4viet.com
    Nghề nghiệp/sở thích : fc
    Registration date : 06/08/2007

    Lịch sử hình thành KIMONO

    Bài gửi by Admin on Mon Oct 22, 2007 9:55 pm

    First
    go to History of Kimonos and learn about how the Kimono established
    itself as a part of Japanese culture. Kimono Types and Designs gives
    detailed explanations of the kinds of fabric used for Kimonos, how they
    are made, and how obi (sashes) are used. If you want to know at what
    times Japanese people today wear Kimonos, go to Occasions for Wearing
    Kimonos, where you can read about what is worn when and how colors are
    coordinated.








    Trước
    tiên, ta hãy tìm hiểu lịch sử của Kimono và tìm hiểu vì sao Kimono trở
    thành một bộ phận của văn hóa Nhật Bản. Các loại Kimono và các mẫu
    thiết kế sẽ cho ta những lời giải thích chi tiết về các lọai vải được
    sử dụng làm Kimono, Kimono được làm như thế nào, và cách sử dụng obi
    (thắt lưng) ra sao? Nếu bạn muốn biết từ bao giờ mà người Nhật ngày nay
    mặc Kimono, hãy xem phần Các dịp để mặc Kimono, ở đó bạn có thể tham
    khảo xem loại áo nào được mặc khi nào và cách phối hợp các màu của
    Kimono với nhau ra sao.
    History of Kimonos

    Japanese looks in the Nara period- Trang phục người Nhật vào thời Nara (© Chitose Yamada).









    Originally,
    “Kimono” was the Japanese word for clothing. But in more recent years,
    the word has been used to refer specifically to traditional Japanese
    clothing. Kimonos as we know them today came into being during the
    Heian period (794-1192).




    From
    the Nara period (710-794) until then, Japanese people typically wore
    either ensembles consisting of separate upper and lower garments
    (trousers or skirts), or one-piece garments. But in the Heian period, a
    new Kimono-making technique was developed. Known as the
    straight-line-cut method, it involved cutting pieces of fabric in
    straight lines and sewing them together. With this technique, Kimono
    makers did not have to concern themselves with the shape of the
    wearer’s body.




    Lịch sử của Kimono

    Khởi
    nguồn từ “Kimono” trong tiếng Nhật là từ để chỉ quần áo nói chung.
    Nhưng những năm gần đây, Kimono đã tở thành một từ đặc biệt dùng để chỉ
    trang phục truyền thống của Nhật Bản. Kimono mà ta biết đến ngày nay
    được bắt nguồn từ triều đại Heian (794-1192).


    Từ
    thời Nara (710-794) trở về trước, người Nhật đã mặc cả bộ áo hoàn chỉnh
    bao gồm phần áo và phần quần rời nhau (quần hoặc váy), hoặc bộ áo liền.
    Nhưng đến thời Heian, kĩ thuật may Kimono đã phát triển. Với phương
    pháp “cắt thẳng”, một chiếc Kimono hoàn chỉnh là những
    mảnh vải được cắt theo những đường thẳng và may lại với nhau. Với
    phương pháp này, người thợ may Kimono không cần thiết phải để ý đến
    hình dáng của người mặc.


















    Straight-line-cut Kimonos offered many advantages. They were easy to
    fold. They were also suitable for all weather: They could be worn in
    layers to provide warmth in winter, and Kimonos made of breathable
    fabric such as linen were comfortable in summer. These advantages
    helped Kimonos become part of Japanese people’s everyday lives.




    Japanese looks in the Heian period- Trang phục người Nhật vào thời Heian (© Chitose Yamada).

    Áo
    Kimono may theo phương pháp đường cắt thẳng có rất nhiều thuận lợi.
    Chúng rất dễ may, và phù hợp với mọi loại thời tiết: Có thể mặc nhiều
    lớp Kimono để giữ ấm vào mùa đông ,và Kimono được may bằng những chất
    liệu thoáng nên cũng phù hợp với cả mùa hè. Những yếu tố này đã làm cho
    Kimono trở thành một phần trong đời sống của người Nhật.


    Over time, as the practice of wearing Kimonos in layers came into













    fashion,
    Japanese people began paying attention to how Kimonos of different
    colors looked together, and they developed a heightened sensitivity to
    color. Typically, color combinations represented either seasonal colors
    or the political class to which one belonged. It was during this time
    that what we now think of as traditional Japanese color combinations
    developed.




    Japanese looks in the Kamakura period- Trang phục người Nhật vào thời Kamakura (© Chitose Yamada).



    During
    the Kamakura period (1192-1338) and the Muromachi period (1338-1573),
    both men and women wore brightly colored Kimonos. Warriors dressed in
    colors representing their leaders, and sometimes the battlefield was as
    gaudy as a fashion show.




    Theo
    thời gian, việc mặc nhiều lớp Kimono đã trở thành mốt, người Nhật bắt
    đầu để ý xem những chiếc Kimono khác màu thì nên kết hợp với nhau thế
    nào, và sự tinh tế trong màu sắc của Kimono đã được người Nhật đưa lên
    một tầm cao mới. Điển hình, cách phối màu còn thể hiện cả
    các sắc màu của mùa, sự phân biệt tầng lớp của người mặc nó. Và trong
    thời kì này, ta thấy rằng sự phối màu của Nhật bản truyền thống đã rất
    phát triển.


    Trong suốt thời Kamakura (1192-1338), và thời Muromachi (1338-1573), cả nam và nữ giới đều mặc Kimono có màu sáng.
    Những chiến binh thì mặc những màu theo người chỉ huy của họ, và đôi
    khi chiến trường trở thành một màn biểu diễn rực rỡ màu sắc.










    During
    the Edo period (1603-1868), the Tokugawa warrior clan ruled over Japan.
    The country was divided up into feudal domains ruled by lords. The
    samurais of each domain wore identified by the colors and patterns of
    their “uniforms.” They consisted of three parts: a Kimono; a sleeveless
    garment known as a kamishimo worn over the Kimono; and a hakama, a
    trouser-like split skirt. The kamishimo was made of linen, starched to
    make the shoulders stand out. With so many samurai clothes to make,
    Kimono makers got better and better at their craft, and Kimono making
    grew into an art form. Kimonos became more valuable, and parents handed
    them down to their children as family heirlooms.




    Trong
    suốt thời Edo (1603-1868), phe Tokugawa cai trị toàn bộ Nhật Bản. Đất
    nước được chia thành nhiều lãnh địa phong kiến do từng lãnh chúa cai
    quản. Những samurai của từng vùng ấy cũgn mặc những trang phục rất khác
    nhau về cả màu sắc lẫn kiểu dáng. Chúng bao gồm 3 phần: áo Kimono, áo
    khoác không tay, mà người ta vẫn thường gọi là kamishimo mặc ở ngoài áo
    Kimono; và hakama, một kiểu váy chẻ giống như quần. Áo kamishmo được
    may từ len, được hồ cứng để vai áo có thể dựng thẳng. Kimono được làm
    thành rất nhiều kiểu áo samurai, và nó được làm ngày một tốt hơn nhờ
    những người thợ may áo thủ công, từ đó, việc may áo Kimono cũng trở
    thành một nghệ thuật. Kimono trở nên giá trị hơn, và các bậc cha mẹ
    thường trao chúng cho con cái mình như những món đồ gia truyền.




    During
    the Meiji period (1868-1912), Japan was heavily influenced by foreign
    cultures. The government encouraged people to adopt Western clothing
    and habits. Government officials and military personnel were required
    by law to wear Western clothing for official functions. (That law is no
    longer in effect today.) For ordinary citizens, wearing Kimonos on
    formal occasions were required to use garments decorated with the
    wearer’s family crest, which identified his or her family background.


    Đến
    thời Meiji (1868-1912), Nhật Bản bị ảnh hưởng mạnh bởi văn hóa phuwng
    tây. Chính phủ Nhật khuyến khích người dân tiếp nhận các thói quen cũng
    như trang phục Tây Âu. Luật pháp buộc các viên chức chính phủ và quân
    nhân phải mặc Âu phục khi thi hành nhiệm vụ. (Luật đó đến nay thì không
    còn áp dụng nữa). Đối với dân thường, Kimono được mặc trong những dịp
    trang trọng luôn phải gắn gia huy, biểu thị cho truyền thống gia đình
    mình.




    many
    women wear Kimonos when they go to see a kabuki show (courtesy of
    Hisako Nakatani)- những người phụ nữ mặc Kimono khi đi xem biểu diễn
    kabuki.



    Nowadays, Japanese people rarely wear Kimonos in everyday life,





    reserving them for such occasions as weddings, funerals, tea ceremonies, or other special events, such as summer festivals.

    Ngày
    nay, người Nhật hiếm khi mặc Kimono hàng ngày, chúng được để cho những
    dịp như lễ cưới, đám tang, tiệc trà, hay những dịp đặc biệt khác chẳng
    hạn như lễ hội mùa hè.

    many
    women wear Kimonos when they go to see a kabuki show (courtesy of
    Hisako Nakatani)- những người phụ nữ mặc Kimono khi đi xem biểu diễn
    kabuki.

    avatar
    Admin
    Admin
    Admin

    Nam
    Tổng số bài gửi : 181
    Age : 30
    Đến từ : anime4viet.com
    Nghề nghiệp/sở thích : fc
    Registration date : 06/08/2007

    Re: Lịch sử hình thành KIMONO

    Bài gửi by Admin on Mon Oct 22, 2007 9:56 pm

    Kimono Types and Designs (1)

    The
    method used to make Kimonos is unique. A piece of fabric 12 to 13
    meters (39 to 43 feet) long and 36 to 40 centimeters (14 to 15 inches)
    wide is cut into eight pieces. These pieces are then sewn back together
    to create the basic form of the Kimono. All of the fabric is used; none
    is thrown away. Most often, the fabric used is silk, but yukata
    (informal summer Kimonos) are often made of cotton. The use of eight
    separate panels makes it easy to take the Kimono apart in order to
    replace or repair old, faded, or damaged panels of fabric.







    thuật may Kimono rất đặc biệt. Một mảnh vải dài từ 12-13m (39-43
    feet)và rộng từ 36-40cm (14-15 inch) được cắt thành 8 mảnh. Những mảnh
    này sau đó được may lại với nhau để tạo thành một chiếc Kimono cơ bản.
    Tất cả các mảnh vải đều được sử dụng; không bỏ đi miếng nào. Thường
    thưởng, loại vải được sử dụng là lụa, nhưng đối với yukata (áo Kimono
    hè) thì được may bằng vải cotton. Công dụng của 8 miếng vải riêng biệt
    là làm cho Kimono trở nên rất dễ dàng trong việc chỉnh sửa một chiếc
    Kimono cũ, nhạt màu hay thay một ô vải bị hỏng.






















    Kimonos
    get their colors in one of two ways: The fabric is woven from different
    colored threads; or the woven fabric is dyed. One example of Kimono
    fabric with the color woven in is oshima-tsumugi, a fabric made on the island of Amami-Oshima south of Kyushu. This fabric is strong and has a gloss to it. Another example is yuki-tsumugi, made in the city of Yuki, Ibaraki Prefecture; this fabric is said to be so sturdy it lasts 300 years.


    This tsumugi Kimono is made with woven color


    Kimono
    được tạo màu theo 2 cách: vải được được dệt từ những sợi nhuộm màu khác
    nhau; hoặc mảnh vải dệt xong và đem đi nhuộm. Một ví dụ vể vải may
    Kimono được dệt từ nh
    ng
    sợi màu là oshima-tsumugi, mảnh vải được dệt tại đảo Amami-Oshima phía
    nam Kyushu. Loại vải này rất dai và được phủ một lớp nước bong. Một ví
    dụ khác là yuki-tsumugi, được làm ở thành phố Yuki, quận Ibaraki; loại
    vải này có thể bền đến 300 năm.





    Dyed
    Kimonos start with white woven fabric, which then has a design drawn or
    embroidered onto it. This technique produces vividly colored fabrics.
    One example of dyed fabric is kyo-yuzen, which is made in Kyoto and is characterized by elaborate, lavishly colored designs. Another example is kaga-yuzen, produced in the city of Kanazawa. kaga-yuzen is characterized by realistic images from nature. (The word yuzen is the name for the stencil resist dyeing technique and the fabric it is used to create.)




    a dyed Kimono known as iromuji.

    Kimono
    nhuộm được làm từ những mảnh vải trắng, và sau đó người ta vẽ hoặc thêu
    lên đó. Công nghệ này đã tạo nên những mảnh vải rất sống động và rực
    rỡ. kyo-yuzen là một ví dụ về vải nhuộm, nó được làm tại Kyoto và được
    trang trí bẵng những hoa văn nhiều màu sắc và rất công phu. Một ví dụ
    nữa là kaga-yuzen, được làm ra tại Kanazawa. Kaga-yuzen được trang trí
    bằng những hình ảnh thực trong tự nhiên. (Từ Yuzen là tên của công nghệ
    nhuộm bằng khuôn tô, và chất liệu dùng để nhuộm là vải).



    The
    advantage of fabric with color woven in is that the color goes all the
    way through, so if the front of the fabric fades, you can flip it over
    and use the other side. The advantage of dyed fabric is that if the
    color fades, it is easy to apply new color.








    Photos: (© Yoshiaki Yamamoto/SEKAIBUNKA PUBLISHING Inc,.)

    Lợi
    thế của vải dệt từ sợi màu là màu hiện cả ở hai mặt của mảnh vải, nên
    nếu mặt trước của tấm vải bị mờ đi, ta có thể lộn ngược lại và dùng mặt
    bên kia. Nhưng lợi thế của vải nhuộm lại là khi mà màu bị phai, ta có
    thể dễ dàng nhuộm lên một lớp màu khác.














    Kimono Types and Designs (2)









    Kimonos are worn with sashes called obi, which hold the Kimono in place and keep the front closed. Obi not only serve this practical function, but are beautiful as well. Obi are about 4 meters (13 feet) long and 30 centimeters (12 inches) wide. There are two types of obi: fukuro-obi, which have a design only on one side; and nagoya-obi, which are narrower in the middle to make them easier to tie around the body. Obi known as nishiki-obi, made in Kyoto, are prized for the lavish colors such as gold and silver that are woven into them. Obi known as hakata-kenjo, made in Fukuoka Prefecture, are also well known.

    Kimono
    được mặc cùng với thắt lưng gọi là obi, obi giữ cho Kimono được thẳng
    và đúng nếp. Obi không chỉ có công dụng này mà nó còn làm cho bộ Kimono
    them đẹp. Obi dài khoảng 4m (13 feet) và rộng 30cm (12 inch). Có hai
    loại obi là furuko-obi, là loại obi được trang trí trên một mặt và
    Nagoya-obi, là loại obi hẹp hơn ở giữa giúp ta dễ dàng quấn chúng quanh
    người. Một loại obi là nishiki-obi, được làm ở Kyoto, rất có giá trị
    nhờ những màu sặc sỡ như vàng, bạc được dùng để dệt nên chúng. Obi
    hakata-kenjo, làm tại quận Fukuoka cũng khá nổi tiếng.


















    There are various ways of tying the obi. The most popular bow is the taiko-musubi, or “drum bow.” This bow, which is tied in back, puffs out like a pillow and is very beautiful. The taiko-musubi has been popular since the late Edo period. Until this bow came on the scene, people did not really care whether their obi were beautiful or not; the obi was just a way of holding the Kimono in place so the front would stay closed. But once the taiko-musubi came out, many other styles of beautiful bows followed.




    rất nhiều cách thắt obi. Cách thắt phổ biến nhất là taiko-musubi. Với
    cách này, ta thắt obi ở sau lưng, phần phồng lên trông như chiếc gối và
    khá đẹp. Taiko-musubi trở nên phổ biến tư cuối thời Edo. Trước khi xuất
    hiện cách thắt này, người ta không bận tâm đến obi dẹp hay không, mà
    obi là chỉ cái để giữ cho Kimono thẳng và ngay ngắn. Nhưng khi cách
    thắt taiko-musubi xuất hiện, rất nhiều cách thắt đẹp nữa cũng xuát hiện
    theo.












    In the Meiji period, people began wearing the obi with accessories known as obi-age and obi-jime. The obi-age (bustle sash) held in place the pad that was used to shape the tied bow. The obi-jime was used to hold the obi
    in place. The use of these accessories in different color combinations
    became a way for people to show off their sense of style.




    Vào
    thời Meiji, người Nhật bắt đầu thắt obi cùng với những phụ trang khác
    như obi-age và obi-jime. Obi-age giữ cho …………………….. Obi-jime dùng để
    giữ cho obi ngay ngắn. Những phụ trang này với những cách phối màu khác
    nhau là cách để người mặc Kimono thể hiện tính cách của mình.












    Other essential items worn with the Kimono include the han’eri (half collar, a lining for the collar of the inner Kimono) and tabi (split-toe socks worn with zori sandals). These items are pure white so as to show off the colors of the Kimono.



    Một
    số thứ cần thiết khác khi mặc Kimono bao gồm han’eri (cổ nửa, một miếng
    vải đệm ở cổ áo Kimono) và tabi (tất xẻ ngón để đi với dép zori). Những
    vậy này thường có màu trắng để nó có thể làm nổi bất màu của bộ Kimono.


    Photos (from top): Beautiful fukuro-obi complement kimonos well (Tatsumura Co.); many people tie their obi in the taiko-musubi style (© Yoshiaki Yamamoto/SEKAIBUNKA PUBLISHING Inc,.); obi-jime are an important part of the look; hairpins are used to complete the fashion.(courtesy of Hisako Nakatani)

    avatar
    Admin
    Admin
    Admin

    Nam
    Tổng số bài gửi : 181
    Age : 30
    Đến từ : anime4viet.com
    Nghề nghiệp/sở thích : fc
    Registration date : 06/08/2007

    Re: Lịch sử hình thành KIMONO

    Bài gửi by Admin on Mon Oct 22, 2007 9:56 pm

    Occasions for Wearing Kimonos (1)



    Japanese people are keenly aware of the four seasons, and the clothes they wear are



    always in keeping with the season. The Japanese are
    also very tuned in to the stages of their lives. Special events are
    held to mark milestones in children’s growth, for instance, and people
    change their kimonos to fit both the season and the occasion.

    Between 30 and 100 days after a child is born, the parents, siblings,
    and grandparents visit a shrine together to report the child’s birth.
    The baby is dressed in a white under-kimono. On top of that kimono, the
    baby wears a brightly colored yuzen-dyed kimono if it is a girl, and a black kimono decorated with the family crest if it is a boy.











    Another key event in a kid’s life is the Shichi-Go-San
    (”seven-five-three”) Festival, which takes place in November. On this
    day, parents take their five-year-old boys and seven-year-old or
    three-year-old girls to the local shrine to thank the gods for keeping
    their children healthy and making them grow. The kids are dressed in
    kimonos for this occasion too.



    Một
    dịp quan trọng khác trong đời đưa trẻ là lễ Shichi-Go-San (7-5-3) được
    tổ chức vào tháng 11. Trong ngày này, các bậc cha mẹ sẽ đưa những bé
    trai 5 tuổi, hay những bé gái 7 hoặc 3 tuổi đến điện thờ để tạ ơn Trời
    đã giúp cho con họ được khỏe mạnh. Trong dịp này, những đứa trẻ cũng
    được mặc kimono.


    At the age of 20, young people celebrate their passage into adulthood by visiting a shrine on Coming-of-Age Day, the second Monday in January. For this occasion, girls wear furisode (kimonos with long flowing sleeves) and boys wear haori (half-coats) and hakama decorated with their family crests.

    Đến
    tuổi 20, người Nhật kỉ niệm sự kiện họ bắt đầu trở thành người lớn và
    đến thăm đền chùa trong ngày Coming-of-age-Day, Thứ hai thứ hai của
    tháng một. Trong dịp này, con gái sẽ mặc furisode (chiếc kimono với tay
    áo dài) và con trai sẽ mặc haori (áo khoác) và hakama có gắn gia huy




    Furisode
    kimonos are worn only by unmarried women. Once upon a time, young
    Japanese women declared their love for a man by fluttering the
    long-flapped sleeves of their furisode kimono.



    Chỉ
    có các cô gái chưa kết hôn mới mặc kimono furisode. Ngày xưa, những phụ
    nữ trẻ người Nhật thể hiện tình yêu của mình với một người đàn ông bằng
    cách vẫy tay áo dài này của chiếc kimono furisode họ đang mặc.


    At weddings, the bride wears a pure white kimono known as a shiromuku. The color white signifies the beginning of a journey.

    Trong
    lễ cưới, cô dâu thường mặc chiếc kimono trắng gọi là shiromuku. Màu
    trắng của chiếc áo tượng trưng cho sự bắt đầu của một cuộc hành trình


    • Colored tomesode

      Black tomesode




    Once a woman is married, she no longer wears a furisode. Instead, she wears a tomesode, a kimono with shorter flaps on the sleeves. The tomesode can be either black or another color. Black tomesode with the wearer’s family crest on them are reserved for formal occasions, such as the weddings of one’s relatives. Colored tomesode can also be worn on formal occasions, but they do not always have the family crest on them. A key distinguishing feature of tomesode (both black and other colors) is that only the fabric on the bottom half of the kimono is decorated with a pattern.



    Khi
    người con gái kết hôn, họ sẽ không mặc furisode nữa. Thay vào đó là
    chiếc tomesode, chiếc kimono với dải tay áo ngắn. Tomesode có thể màu
    den hoặc bát kì màu nào khác. Chiếc tomesode đen với gia huy của dòng
    họ trên áo được để dành cho những dịp quan trọng, chẳng hạn như lễ cưới
    của một ai đó trong gia đình. Tomesode màu vẫn có thể mặc trong những
    dịp quan trọng, nhưng người ta thường không gắn gia huy lên đó. Điểm
    phân biệt chủ yếu của tomesode (cả đen lẫn màu) là chỉ có nửa dưới của
    chiếc áo được trang trí hoa văn.




    Photos (from top): Children wear kimonos for the
    Shichi-Go-San Festival (courtesy of Hisako Nakatani ); a furisode
    kimono, worn only by unmarrid women (© Yoshiaki Yamamoto/SEKAIBUNKA
    PUBLISHING Inc,.); Many women wear kimonos for their first visit to a
    temple or shrine in the new year.(courtesy of Hisako Nakatani)











    Occasions for Wearing Kimonos (2)

    There are many other kinds of kimonos for women. When paying a formal visit, women wear homongi (”visiting kimonos”), which are covered entirely by a pattern. Tsukesage
    (decorated with patterns running up from the front and back hemlines to
    meet at the top of the shoulders, and patterns on the sleeves that meet
    at the tops of the sleeves) are for parties, tea ceremonies, flower
    arranging, and friends’ weddings.


    Còn có rất
    nhiều loại kimono khác dành cho phụ nữ. Trong những chuyến viếng thăm
    quan trọng, phụ nữ thường mặc homongi (kimono cho những dịp thăm hỏi),
    hoa văn được trang trí trên toàn bộ chiếc áo. Tsukesage (hoa văn trang
    trí chạy từ phía áo trước và gấu áo sau, gặp nhau ở trước ngực áo, và
    hoa văn trên tay áo thì ở phía trên) được dùng trong những bữa tiệc,
    tiệc trà, cắm hoa, và lễ cưới cuả bạn bè.





    Komon Homongi Tsukesage

    For casual wear, one can choose from such kimonos as komon, which are covered entirely by small, subtle patterns, and tsumugi, with brighter, more prominent patterns.

    Trong
    trang phục hàng ngày, người ta có thể mặc komon, nó được trang trí kín
    bằng những hoa văn nhỏ, chìm, và tsumugi với hoa văn nổi và sáng hơn




    Whatever the occasion-the first shrine visit of the
    new year, stopping in to see an older person, or what have you–Japanese
    people always keep the season in mind when deciding which kimono to
    wear. Pale colors such as light green are appropriate for spring, while
    cool colors such as lavender or dark blue or are good for summer.
    Autumn calls for colors that imitate the hues of the turning leaves,
    and winter is the season for strong colors like black and red.

    In summer, Japanese people enjoy lighting fireworks and attending
    summer festivals. At these times, they wear informal summer kimonos
    known as yukata. In the past, people also wore yukata
    at home after getting out of the bath, but now they are mainly a
    fixture of the summer streetscape, where they are worn by people young
    and old, male and female alike. Most yukata
    are made of cotton. Traditionally, they are patterned either
    navy-on-white or white-on-navy, but in recent years more colorful
    designs have emerged.





    Ngay
    cả vào những dịp như lễ chùa đầu tiên của năm mới, thăm các cụ già hay
    bất cứ dịp nào, người Nhật luôn có suy nghĩ xem đó là mùa nào để mặc
    chiếc kimono nào. Những màu nhạt như xanh lá mạ, thì phù hợp với mùa
    xuân, trong khi những màu lạnh như màu hoa oải hương hay xanh đậm thì
    được mặc trong màu hè. Mùa thu gợi đến những màu như màu của lá vàng,
    và mùa đông là mùa của những màu đậm như đen hay đỏ.




    Vào
    mùa hè, người nhật thường đi xem pháo hoa và tham dự lễ hội mùa hè.
    Những dịp này, họ mặc chiếc kimono hè gọi là yukata. Trước đây, người
    ta cũng mặc yukata ở nhà, sau mõi lần tắm, nhưng giờ đây, người ta
    thường chỉ mặc nó để dạo phố vào mùa hè, bất kì ai kể cả già trẻ, nam
    nữ đều mặc nó như nhau. Yutaka thường được may từ vải cotton. Theo
    truyền thống, chúng thường là màu xanh biển trên nền trắng hoặc trắng
    trên nền xanh, nhưng ngày nay, yakata các màu khác cũng đã xuất hiện.








    Although kimonos are no longer everyday wear in
    Japan, people still like to wear them at various times throughout the
    year. And when they do, they use the fabrics, colors, and designs of
    their kimonos to express their love of the four seasons.





    Mặc
    dù ngày nay, kimono khong còn được mặc hàng ngày ở Nhật nữa, nhưng mọi
    người vẫn thích mặc chúng vào những dịp khác nhau năm. Và trong những
    ngày đó, họ dùng những chiếc kimono với màu sắc, loại vải và thiết kế
    khác nhau đẻ thể hiện tình yêu thiên nhiên của mình















    Photos
    (from top): The cool colors of a summer Kimono (left) and a darker
    winter style; young people love to wear yukata to summer festivals.
    (courtesy of Hisako Nakatani)


    Source: http://web-japan.org

    Translate: Monoka

    Edit: Naru

    ^^ Rất cám ơn Monoka đã giúp đỡ Naru^^


    Sponsored content

    Re: Lịch sử hình thành KIMONO

    Bài gửi by Sponsored content


      Hôm nay: Sun Jul 22, 2018 3:44 pm